:quality(75)/xuc_pham_danh_du_nhan_pham_nguoi_khac_67e8ec7b2c.png)
Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác: Cảnh cáo, phạt tiền hay truy tố?
Trong thời đại mạng xã hội phát triển mạnh mẽ như hiện nay, việc chia sẻ thông tin, quan điểm cá nhân trên các nền tảng như Facebook đã trở nên phổ biến. Tuy nhiên, đi kèm với tự do ngôn luận là trách nhiệm trong lời nói và hành vi. Không ít trường hợp người dùng đã sử dụng mạng xã hội để xúc phạm, lăng mạ người khác. Vậy hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác có vi phạm pháp luật hình sự không?
Quyền cá nhân đối với hình ảnh được quy định như thế nào?
Trong xã hội hiện đại, hình ảnh cá nhân không chỉ mang giá trị riêng tư mà còn gắn liền với danh dự, nhân phẩm và quyền lợi pháp lý của mỗi người. Nhằm bảo vệ quyền này, pháp luật đã có quy định cụ thể tại Điều 32 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:
"Điều 32. Quyền của cá nhân đối với hình ảnh
1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.
Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.
Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
...
3. Việc sử dụng hình ảnh mà vi phạm quy định tại Điều này thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật."
Tóm lại, theo Điều 32 Bộ luật Dân sự 2015, cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Việc sử dụng hình ảnh cá nhân phải được sự đồng ý của chính người đó. Trong trường hợp hình ảnh được sử dụng cho mục đích thương mại, người sử dụng phải trả thù lao cho người có hình ảnh trừ khi giữa các bên có thỏa thuận khác.
Nếu hình ảnh bị sử dụng trái với các quy định trên, người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc bên vi phạm phải chấm dứt hành vi, thu hồi, tiêu hủy hình ảnh, đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật.

Xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác có vi phạm pháp luật không?
Xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác là hành vi không chỉ vi phạm đạo đức xã hội mà còn có thể bị xử lý theo quy định pháp luật và được quy định trong Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015:
"Điều 34. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín
1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.
2. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.
Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
3. Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.
4. Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng.
5. Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại."
Theo Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015, cá nhân có quyền bất khả xâm phạm đối với hình ảnh, danh dự, nhân phẩm và uy tín của mình. Bất kỳ hành vi nào sử dụng hình ảnh cá nhân trái ý muốn, đưa thông tin sai lệch, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác đều có thể bị yêu cầu:
- Gỡ bỏ thông tin vi phạm;
- Cải chính, xin lỗi công khai;
- Bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần.
Như vậy, những người xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác hoàn toàn có thể bị khởi kiện vì hành vi này.

Xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác bị xử phạt như thế nào?
Khi bị xúc phạm, tùy vào mức độ và hậu quả, người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Phạt hành chính
Các tổ chức sử dụng mạng xã hội để xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác sẽ bị xử phạt theo Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP, được sửa đổi tại Nghị định 14/2022/NĐ-CP:
"Điều 101. Vi phạm các quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội
1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong các hành vi sau:
a) Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân;
b) Cung cấp, chia sẻ thông tin cổ súy các hủ tục, mê tín, dị đoan, dâm ô, đồi trụy, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc;
c) Cung cấp, chia sẻ thông tin miêu tả tỉ mỉ hành động chém, giết, tai nạn, kinh dị, rùng rợn;
d) Cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong Nhân dân, kích động bạo lực, tội ác, tệ nạn xã hội, đánh bạc hoặc phục vụ đánh bạc;
đ) Cung cấp, chia sẻ các tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm mà không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc chưa được phép lưu hành hoặc đã có quyết định cấm lưu hành hoặc tịch thu;
…
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này.”
Việc xử phạt trên nhằm răn đe, ngăn chặn và bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm, cụ thể:
- Tổ chức: Phạt tiền từ 10 đến 20 triệu đồng.
- Cá nhân: Phạt tiền từ 5 đến 10 triệu đồng.
Ngoài ra, người vi phạm còn bị buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc xúc phạm đã đăng tải.

Truy cứu trách nhiệm hình sự
Ngoài ra, hành vi xúc phạm người khác còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo tội Làm nhục người khác được quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015, đã được sửa đổi, bổ sung bởi điểm e khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017, cụ thể như sau:
1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Đối với 02 người trở lên;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
d) Đối với người đang thi hành công vụ;
đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;
e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
b) Làm nạn nhân tự sát.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Làm gì khi bị người khác xúc phạm trên mạng xã hội?
Việc bị xúc phạm trên mạng xã hội, đặc biệt là Facebook, không còn là chuyện hiếm gặp trong đời sống hiện đại. Tuy nhiên, dù diễn ra trong không gian mạng, những hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác vẫn bị coi là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử lý theo quy định hiện hành.
Danh dự, nhân phẩm được pháp luật bảo vệ như thế nào?
Cá nhân có quyền được pháp luật bảo vệ về danh dự và nhân phẩm. Đây là quyền nhân thân cơ bản, được ghi nhận tại khoản 1 Điều 20 Hiến pháp 2013 như sau:
“Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm...". Như vậy, bất kỳ hành vi nào làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm của người khác - dù trong đời sống thực hay trên không gian mạng - đều là hành vi trái pháp luật.
Hành động cần thực hiện khi bị xúc phạm trên mạng xã hội
Nếu bạn là nạn nhân của hành vi xúc phạm trên mạng xã hội, bạn có thể làm đơn tố cáo và gửi đến Ủy ban nhân dân xã, phường nơi cư trú hoặc cơ quan công an để được xử lý theo quy định pháp luật.
Theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP:
“3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Có hành vi khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm, lăng mạ, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người khác, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 21 và Điều 54 Nghị định này;”
Hành vi này thuộc thẩm quyền xử phạt của chủ tịch UBND cấp xã, phường nơi người vi phạm cư trú.
Truy cứu trách nhiệm hình sự
Khi hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm mang tính chất nghiêm trọng, người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bởi điểm e khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017) hoặc Điều 156 về tội Vu khống.
Mức độ nghiêm trọng được đánh giá dựa trên nhiều yếu tố như:
- Nhận thức và thái độ của người vi phạm;
- Cường độ, thời gian và phạm vi tác động của hành vi xúc phạm;
- Vị trí xã hội, uy tín của người bị hại;
- Phản ứng và ảnh hưởng trong dư luận xã hội.
Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại khi bị xúc phạm
Ngoài việc xử phạt hành chính hoặc truy tố hình sự, nếu hành vi xúc phạm gây ra thiệt hại, người bị hại còn có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Điều 592 Bộ luật Dân sự 2015:
“Điều 592. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;
c) Thiệt hại khác do luật quy định.

Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu.
Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”
Nếu không thể tự thỏa thuận, người bị xúc phạm có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú để yêu cầu được bồi thường theo quy định pháp luật.
Tạm kết
Mạng xã hội là công cụ kết nối cộng đồng, chia sẻ thông tin nhưng không vì thế mà được phép xúc phạm, hạ thấp nhân phẩm người khác. Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác không chỉ vi phạm đạo đức xã hội mà còn có thể dẫn đến xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo mức độ nghiêm trọng. Mỗi người dùng cần nâng cao ý thức, sử dụng mạng xã hội một cách văn minh, đúng pháp luật để bảo vệ mình và tôn trọng người khác.
Bạn cần một chiếc điện thoại mạnh mẽ để tra cứu luật nhanh chóng? Hãy khám phá ngay các mẫu điện thoại OPPO chính hãng tại FPT Shop, với hiệu năng ổn định, camera sắc nét và pin bền bỉ, hỗ trợ tối đa trong công việc và cuộc sống.
Xem thêm:
:quality(75)/estore-v2/img/fptshop-logo.png)
:quality(75)/me_tin_di_doan_la_gi_3_c7f123ff2f.jpg)
:quality(75)/lien_doi_la_gi_f987690ae8.jpg)
:quality(75)/tra_cuu_cccd_nguoi_khac_01_68e99c0bf6.jpg)
:quality(75)/danh_bac_online_co_pham_phap_khong_0_c648b7240c.jpg)
:quality(75)/ap_dung_phap_luat_la_gi_eb429afdfa.jpg)